Môi trường

Ngành dệt may cần chuyển hướng sản xuất xanh

SGGP
Dệt may là ngành có đóng góp lớn cho nền kinh tế với 13%-14% tổng giá trị xuất khẩu, tạo việc làm cho hơn 3 triệu lao động. Tuy nhiên, ngành dệt may đang đối mặt với nhiều thách thức về môi trường khi là ngành tiêu tốn nhiều năng lượng, nước và xả thải ra môi trường.

Ngành dệt may cần chuyển hướng sản xuất xanh

Trung bình mỗi năm, ngành dệt may Việt Nam chi khoảng 3 tỷ USD cho năng lượng sản xuất. Không chỉ sử dụng nhiều năng lượng, ngành này còn gây ô nhiễm nguồn nước do sử dụng nhiều hóa chất độc hại. Quy mô sản xuất vải ngày càng mở rộng, lượng ô nhiễm sẽ tăng không ngừng nếu công nghệ sản xuất không thay đổi.

Theo Tổ chức quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (WWF), mỗi năm ngành thời trang toàn cầu tiêu thụ khoảng 1,5 tỷ lít nước, 92 triệu tấn rác thải, nước thải chiếm 20% nước thải công nghiệp. Trong khi trồng bông chỉ chiếm 2,4% đất canh tác trên toàn thế giới nhưng nó sử dụng tới 10% hóa chất toàn ngành nông nghiệp và 25% chất bảo vệ thực vật. Khí thải của ngành dệt may chiếm 2%-10% tổng lượng khí hiệu ứng nhà kính và tăng lên 26% vào năm 2050 nếu ngành không có động thái thay đổi.

Tại Việt Nam, phải mất 2.700 lít nước để làm một chiếc áo phông cotton và 17%-20% ô nhiễm nguồn nước công nghiệp xuất phát từ việc dệt nhuộm và xử lý dệt may. Nhiều vật liệu sử dụng trong quá trình tạo ra sản phẩm dệt may như kim loại nặng, chất chống cháy, amoniac,... là hóa chất độc hại, đe dọa môi trường và sức khỏe con người. Ước tính hóa chất sử dụng tại các doanh nghiệp dệt nhuộm từ 500-2.000kg/tấn sản phẩm.

Việt Nam hiện có khoảng 177 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực nhuộm in hoa và xử lý hoàn tất vải, 66 dây chuyền in hoa, 193 dây chuyền nhuộm liên tục, 100 thiết bị nhuộm dạng sợi. Hầu hết các dây chuyền nhuộm, kể cả dây chuyền hiện đại chưa được quản lý và khai thác công nghệ tương xứng với tính năng thiết bị. Trình độ công nghệ trong ngành dệt nhuộm chậm hơn các khu vực 15-20 năm. Số doanh nghiệp sử dụng công nghệ đồng bộ cao chỉ chiếm khoảng 20%; doanh nghiệp sử dụng công nghệ trung bình chiếm 70%, doanh nghiệp sử dụng công nghệ hiện đại tự động hóa chỉ 10%.

Các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần xanh hóa ngành dệt may để tận dụng các cơ hội miễn/giảm thuế từ FTA với châu Âu và các nước (EVFTA, CPTPP…), đảm bảo các yêu cầu của FTA về nguồn nguyên liệu từ vải, sợi đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường, xã hội. Nếu không thay đổi phương thức sản xuất từ bây giờ, doanh nghiệp sẽ mất năng lực cạnh tranh. Đồng thời, để đảm bảo an ninh nguồn nước, năng lượng và các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.

Bà Hoàng Thị Thanh Nga, Đại diện WWF cho rằng, ngành dệt may đang đứng trước thách thức mới, đó là không chỉ đáp ứng yêu cầu nguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu sản xuất mà còn phải chứng minh được trách nhiệm xã hội với sức khỏe cộng đồng, các vấn đề liên quan đến môi trường.

Thời gian qua, WWF đã phối hợp với Hiệp hội Dệt may Việt Nam triển khai dự án “Xanh hóa ngành dệt may Việt Nam thông qua cải thiện quản lý nước và năng lượng bền vững” nhằm thúc đẩy quản lý lưu vực sông tốt hơn, cải thiện chất lượng nguồn nước và sử dụng năng lượng bền vững. WWF kỳ vọng sẽ hỗ trợ nhiều hơn cho các khu công nghiệp trong tiếp cận gói “tín dụng xanh” để đầu tư khu công nghiệp dành riêng cho ngành dệt may.

HÀ VĂN

Tin cùng chuyên mục