Xúc tiến công nghiệp thương mại

Ngành cơ khí tụt hậu trước 4.0

SGGP
Mặc dù đã đạt được những thành quả ban đầu, nhưng ngành sản xuất cơ khí trong nước đang ngày càng tụt hậu so với nhu cầu phát triển. Cộng đồng doanh nghiệp cơ khí (DNCK) đang phải đối diện với nhiều thách thức, sức cạnh tranh yếu hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Nhiều hạn chế

Ghi nhận thực tế cho thấy, công nghiệp cơ khí Việt Nam thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định. Cụ thể, một số lĩnh vực có sự chuyển biến, đột phá như chế tạo thiết bị thủy công, giàn khoan dầu khí (cung cấp khoan thăm dò, khai thác dầu khí đến độ sâu 120m, giàn khoan tự nâng 90m nước, giàn khoan khai thác giếng dầu), thiết bị điện, chế tạo và cung cấp thiết bị cho nhà máy xi măng, đóng tàu các loại (tàu chở dầu đến trọng tải 105.000DWT, tàu chở khí hóa lỏng trọng tải 5.000 tấn, tàu chở hàng rời…), các công trình thiết bị toàn bộ (nhà máy đường công suất 1.000 tấn mía/ngày, chế biến mủ cao su công suất 6.000 tấn/năm).

Cơ khí chế tạo trong nước cũng đã sản xuất, lắp ráp được hầu hết chủng loại ô tô con, xe tải, xe khách; sản xuất xe máy có tỷ lệ nội địa hóa 85% - 95%, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Nhiều doanh nghiệp (DN) sản xuất cơ khí đã từng bước đổi mới, nâng cao năng lực tư vấn, thiết kế, chế tạo thiết bị và công nghệ, tham gia thực hiện một số gói thầu của các dự án trọng điểm quốc gia.

Ngành cơ khí tụt hậu trước 4.0 ảnh 1 Sản xuất sản phẩm cơ khí tại LILAMA. Ảnh: THÀNH TRÍ

Mặc dù đạt được một số kết quả nhất định như trên, song theo TS Trần Thị Minh Hằng, Đại học Quốc gia Hà Nội, công nghiệp cơ khí Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, việc mở rộng thị trường còn nhiều khó khăn do thiếu thông tin thị trường và năng lực cạnh tranh của DNCK trong nước chưa đủ mạnh.

Ngay tại thị trường trong nước, DNCK cũng khó có thể tham gia được vào các dự án đầu tư lắp đặt trang thiết bị trong ngành thép, hóa chất, năng lượng… do thiếu hệ thống kiểm định chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Các DN, sản phẩm cơ khí trong nước cũng chưa xây dựng được thương hiệu và có nhiều khách hàng tiềm năng biết đến.

Hơn nữa, các cam kết tự do thương mại cũng tạo áp lực đối với DN trong nước, khi hàng rào thuế quan bảo hộ sản xuất trong nước bị gỡ bỏ. Thực tế cho thấy, ngành cơ khí Việt Nam có rất ít phát minh, sáng chế được đăng ký, trang thiết bị và trình độ công nghệ toàn ngành chậm đổi mới.

Các DNCK thiếu đầu ra cho sản phẩm nên không có cơ hội tích lũy và đầu tư đổi mới công nghệ. Khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra, các công nghệ mới đã làm thay đổi hoàn toàn cách thức, phương thức sản xuất hiện nay, đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc đổi mới và cập nhật xu thế công nghệ đối với các DNCK.

Tạo chính sách đủ mạnh

Ngoài ra, hiện nguyên phụ liệu cho ngành cơ khí chủ yếu là sắt thép và các loại hợp kim màu trong nước chưa sản xuất được nên phải nhập khẩu. Về nhân lực ngành cơ khí còn thiếu và yếu cả về số lượng lẫn chất lượng...

Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế trên là do các DNCK trong nước hầu hết có quy mô sản xuất nhỏ, trình độ công nghệ trung bình, chưa khẳng định được năng lực thị trường. Một số hãng nước ngoài tuy có thương hiệu mạnh, nhưng tại Việt Nam chủ yếu chỉ rắp ráp để tiêu thụ tại chỗ, mức độ liên kết và hợp tác còn thấp. 

Theo đánh giá của giới chuyên gia, cách mạng công nghiệp 4.0 có tác động quan trọng đối với sản xuất cơ khí trong hiện tại và tương lai, nhất là các vấn đề quản trị công nghệ, quản trị sản xuất. Do đó, để thúc đẩy ngành cơ khí phát triển bền vững, việc tạo dựng thị trường là yếu tố tiên quyết, song hành với xử lý tình trạng gian lận thương mại, nhập khẩu tràn lan thiết bị đã qua sử dụng.

Tạo nguồn vốn vay dài hạn, có lãi suất ổn định, theo đặc thù đầu tư sản xuất cho DNCK. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý Nhà nước cần ban hành các quy định sao cho góp phần nâng cao tỷ lệ sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước và quản lý các gói tổng thầu dạng hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (EPC) về máy móc thiết bị, để có thể tạo ra thị trường cho DNCK trong nước.

Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất và khuyến khích tiêu thụ sản phẩm cơ khí trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam. Mặt khác, triển khai các chương trình kết nối kinh doanh nhằm tăng cường liên kết, liên doanh giữa DN trong nước với nhau và với các DN lớn trên thế giới trong chuỗi giá trị để tiếp cận công nghệ và tiêu chuẩn hóa sản phẩm.

Nhằm đạt được mục tiêu đến 2035, ngành cơ khí Việt Nam phát triển với đa số chuyên ngành có công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản phẩm cơ khí của thị trường trong nước; sản lượng xuất khẩu đạt 45% tổng sản lượng ngành cơ khí… trước mắt cần hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách đồng bộ và đủ mạnh để hỗ trợ phát triển ngành cơ khí.

Chính phủ cần sớm xây dựng và ban hành nghị định về phát triển ngành công nghiệp chế tạo. Phát triển các ngành công nghiệp hạ nguồn trong lĩnh vực cơ khí có chuỗi cung ứng lớn để tạo cơ hội cho các DNCK trong nước tham gia cung cấp phụ tùng, linh kiện cho DN sản xuất, lắp ráp sản phẩm cuối cùng. Trong đó, chú trọng phát triển các ngành cơ khí có tiềm năng phát triển như ô tô, thiết bị công nghiệp, gia dụng và dụng cụ…

Đồng thời, nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư từ các DNCK có thương hiệu trên thế giới để dần hình thành chuỗi cung ứng trong nước và tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu cho các DNCK trong nước.

LẠC PHONG

Tin cùng chuyên mục